User Tools

Site Tools


09820--i-h-c-lund-la-gi

Đại học Lund
Tên bản địa Lunds universitet
Tên Latinh Universitas Lundensis or Universitas Gothorum Carolina. Also the older Regia Academia Carolina lundensis, or Academia Carolina conciliatrix.
Khẩu hiệu Ad utrumque (Prepared for both)[1]
Thông tin chung
Loại hình Public
Thành lập 1666
Thành viên Universitas 21
LERU
EUA
ASAIHL
Nhân viên 5.300 tổng (bao gồm phi khoa học)
Sinh viên 42,000 (2016)[2]
Nghiên cứu sinh 3.200
Thông tin khác
Khuôn viên Thành thị
Vị trí Thụy Điển Lund, Scania, Thụy Điển
Màu Xanh da trời tối và đồng          
Website http://www.lunduniversity.lu.se

Đại học Lund (tiếng Thụy Điển: Lunds universitet), nằm ở thành phố Lund, tỉnh Scania, Thụy Điển, là một trong những trường đại học Bắc Âu danh giá nhất [3] và là một trong các tổ chức lớn nhất về giáo dục và nghiên cứu ở vùng Scandinavia,[4][5][6][7], thường xuyên được xếp hạng trong top 100 trường đại học hàng đầu thế giới[8][9][10][11]. Trường đại học được thành lập năm 1666 và là trường đại học lâu đời thứ hai tại Thụy Điển (trước đó là Đại học Uppsala thành lập vào năm 1477), tuy nhiên tiền thân của nó là một studium generale được thành lập năm 1438 tại Lund[12].

Đại học Lund có tám khoa[13], với các cơ sở phụ tại các thành phố Malmö và Helsingborg, với 47.000 sinh viên trong hơn 274 chương trình khác nhau và 2000 các khóa học riêng biệt. Nó là thành viên của Liên đoàn các Đại học nghiên cứu châu Âu cũng như mạng lưới toàn cầu Universitas 21.[14]

Khuôn viên đại học truyền thống tọa lạc tại công viên Lundagård tiếp giáp với Nhà thờ chính tòa Lund, các khoa và trung tâm phân bố khắp các nơi trong thành phố, nhưng chủ yếu tập trung ở vành đai phía bắc kéo dài từ công viên kết nối với các khu vực bệnh viện đại học và tiếp tục ra ngoại vi phía đông bắc của thành phố, trong đó có khuôn viên rộng lớn của Trường Kỹ thuật (LTH).

Lars Hörmander (1931-2012) là nhà Toán học có đóng góp quan trọng cho cơ sở của Lý Thuyết Phương Trình Đạo hàm riêng, nhận Huân Chương Fields năm 1962.

Marcel Riesz (1886-1969), là nhà Toán học nổi tiếng với các định lý Riesz, hàm Riesz, trung bình Riesz và thế Riesz, ông là em trai của nhà Toán học Frigyes Riesz, ông cũng là giáo sư hướng dẫn của Lars Hörmander.

Manne Siegbahn (1886-1978) là nhà Vật Lý được trao tặng giải Nobel Vật Lý năm 1924 về các khám phá và nghiên cứu về tia X. Con trai của ông là Kai Siegbahn cũng đạt giải Nobel Vật Lý trong lãnh vực này năm 1981

Oskar Klein (1894-1977) là nhà Vật lý lý thuyết nổi tiếng với lý thuyết Kaluza–Klein, phương trình Klein–Gordon, phương pháp Rydberg–Klein–Rees.

Bertil Ohlin (1899-1979), giải Nobel Kinh tế năm 1977 cho những đóng góp đột phá vào lý luận thương mại quốc tế và dịch chuyển vốn quốc tế.

Sune Bergström (1916-2004), Giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1982 chung với Bengt I. Samuelsson và John Robert Vane cho các phát hiện liên quan tới các prostaglandin cùng các chất liên quan..

Arvid Carlsson (1923), Giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 2000 chung với Eric Kandel và Paul Greengard vì các nghiên cứu về hoạt chất dần truyền thần kinh dopamin và tác động của nó đến bệnh Parkinson. 

V. Walfrid Ekman (1874-1954), nhà Hải dương học nổi tiếng với xoắn ốc Ekman, số Ekman. 

09820--i-h-c-lund-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:08 (external edit)