User Tools

Site Tools


10050-qu-n-o-n-1-qu-n-i-nh-n-d-n-vi-t-nam-la-gi

Quân đoàn 1, còn có tên hiệu là Binh đoàn Quyết thắng[1] là một trong 4 quân đoàn chủ lực cơ động, trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Đây là đơn vị cấp quân đoàn thực thụ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1973 tại Ninh Bình. Vào cuối chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 1 là đơn vị đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, góp phần làm nên chiến thắng ngày 30/4/1975.[2][3]

Thiếu tướng Lê Quang Hòa, chính ủy đầu tiên của Quân đoàn 1.

Năm 1972, sau thất bại của đợt tập kích đường không trong Chiến dịch Linebacker II, chính phủ Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, theo đó năm 1973 Mỹ phải rút toàn bộ quân đội về nước. Tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiến hành hội nghị lần thứ 21, ra nghị quyết về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước. Chấp hành nghị quyết, tháng 10 năm 1973 Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã phê chuẩn việc thành lập các quân đoàn chủ lực. Theo đó, ngày 24 tháng 10 năm 1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định (số 142/QĐ-QP) thành lập Quân đoàn 1 đóng quân trên địa bàn Tam Điệp, Ninh Bình[4]. Ban chấp hành Đảng bộ gồm 7 ủy viên, do Lê Quang Hoà làm Bí thư, Lê Trọng Tấn - Tư lệnh quân đoàn, Phó Bí thư và Hoàng Minh Thi ủy viên Thường vụ.

Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, cơ cấu tổ chức của Quân đoàn gồm: Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Ba cơ quan Quân đoàn: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần. Các đơn vị khi thành lập: Sư đoàn bộ binh 308, Sư đoàn bộ binh 312, Sư đoàn bộ binh 320B (sau đổi thành 390), Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn tăng thiết giáp 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299 và Trung đoàn thông tin 140 [4].

Ngày 15 tháng 3 năm 1975, trong khi Chiến dịch Tây Nguyên đang thu được thắng lợi giòn giã. Quân đoàn 1 được lệnh di chuyển vào nam sẵn sàng tham chiến. Chỉ trong 12 ngày đêm, toàn bộ đội hình quân đoàn (trừ sư 308 ở lại miền Bắc làm nhiệm vụ nghi binh), đã di chuyển vượt chặng đường dài 1.789 km từ Bắc vào Nam theo đường Trường Sơn, kịp thời vào trực tiếp tham gia chiến đấu trên hướng Bắc Sài Gòn. Sau đó, quân đoàn di chuyển vào chiến trường theo tuyến Quốc lộ 1 - Đường 9 - qua Lao Bảo sang Lào - về Kon Tum theo đường 14 qua Buôn Mê Thuột, đến ngày 14 tháng 4 năm 1975 vào đến Đồng Xoài - Phước Long chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 1 nhận nhiệm vụ tấn công từ phía Bắc Sài Gòn, bao vây tiêu diệt đối phương ở Phú Lợi, Bến Cát, Bình Dương, Lai Khê, Tân Uyên; ngăn chặn Sư đoàn 5 Quân lực Việt Nam Cộng hòa rút về nội đô và vô hiệu hóa đơn vị này; tấn công đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, các bộ tư lệnh binh chủng ở Gò Vấp, Bình Thạnh; tổ chức một lực lượng tấn công hợp điểm với các quân đoàn khác tại Dinh Độc Lập[5][6] Do phải hành quân gấp từ miền Bắc vào bằng mọi phương tiện thuỷ, bộ và đường không. Quân đoàn 1 bắt đầu tấn công chậm một ngày so với các đơn vị khác.[7]

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn phòng
  • Thanh tra
  • Phòng Tài chính
  • Phòng Khoa học Quân sự
  • Phòng Thông tin KHQS
  • Phòng Điều tra Hình sự
  • Bộ Tham mưu[9]
  • Cục Chính trị[10]
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật[11]

Đơn vị trực thuộc Quân đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sư đoàn Bộ binh 308[12] (Đoàn B08) tại Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội
  • Sư đoàn Bộ binh 312[13] (Đoàn B12) tại Phổ Yên, Thái Nguyên
  • Sư đoàn Bộ binh 390 (Đoàn B90) tại Bỉm Sơn - Thanh Hóa
  • Lữ đoàn Pháo binh 368[14] (Đoàn B68) tại Bỉm Sơn, Thanh Hóa
  • Lữ đoàn Phòng không 241[15] (Đoàn H41) tại Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình
  • Lữ đoàn Xe tăng 202 (Đoàn H02) tại Phú Lộc, Nho Quan, Ninh Bình.
  • Lữ đoàn Công binh 299[16] (Đoàn H99) tại Yên Thủy, Hòa Bình
  • Trường Quân sự Quân đoàn 1[17] tại thành phố Tam Điệp, Ninh Bình
  • Trường Trung cấp Nghề số 14[18] tại thành phố Tam Điệp, Ninh Bình

Đơn vị trực thuộc Cục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiểu đoàn Trinh sát 701, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Cảnh vệ 702, Bộ Tham mưu[19]
  • Tiểu đoàn Trinh sát 703, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Hóa học 21, Bộ Tham mưu[9]
  • Tiểu đoàn Thông tin 140, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Đặc công, Bộ Tham mưu
  • Bảo tàng Quân đoàn 1, Cục Chính trị[20]
  • Tiểu đoàn Vận tải 752, Cục Hậu cần
  • Kho K54, Cục Hậu cần
  • Bệnh xá cơ quan, Cục Hậu cần[21] tại thành phố Tam Điệp, Ninh Bình
  • Tiểu đoàn Kho K256, Cục Kỹ thuật[11][22]
  • Tiểu đoàn 879, Cục Kỹ thuật[23]
  • Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1985).
  • Huân chương Quân công hạng Nhất (2008)
  • Trong Binh Đoàn có 55 tập thể và 46 cán bộ, chiến sĩ được trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Binh Đoàn và 2 tập thể được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; 1 tập thể được tặng thưởng Huân chương Độc lập; 302 tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công và hơn 1.000 tập thể, cá nhân được tặng thưởng Huân chương Chiến công cùng nhiều phần thưởng khác.[24]

Chỉ huy, lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chính ủy, Phó tư lệnh Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian
đảm nhiệm
Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Lê Quang Hòa 1973- 1974 Thiếu tướng (1959)
Trung tướng (1974)
Thượng tướng (1986), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam kiêm Tổng thanh tra Quân đội Chính ủy đầu tiên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm chức
2 Hoàng Minh Thi 1974-1979 Thiếu tướng (1974) Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 4
3 Đỗ Mạnh Đạo 1980-1982 Đại tá Trung tướng (1989)
Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 3 (1985-1993)
4 Đỗ Trường Quân 1982-1984 Thiếu tướng Phó Tư lệnh Chính trị, Quân đoàn 1
5 Hoàng Ngọc Chiêu 1988-1989 Thiếu tướng Phó Tư lệnh Chính trị, Quân đoàn 1
6 Vũ Xuân Sinh 1993-1995 Thiếu tướng Hệ trưởng Hệ Quốc phòng (Học viện Quốc phòng)
7 Nguyễn Đức Sơn

(1946-)

1995-2000 Thiếu tướng(1996)

Trung tướng(2004)

Cục trưởng Cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu(2000-2006)
8 Ngô Lương Hanh

(1950-)

2000-2004 Thiếu tướng(2000)

Trung tướng(2006

Trung tướng, Chính ủy Học viện Hậu Cần(2004-2010)
9 Mai Quang Phấn

(1953-)

2004-2005 Thiếu tướng(2005)

Trung tướng(2009)

Thượng tướng (2014), Chính ủy Quân Khu 4(2005-2012) Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị (2012-2016) Ủy viên Trung ương Đảng (2006-2016)
10 Đỗ Đức Tuệ

(1954-)

2005-2007 Thiếu tướng(2006)

Trung tướng(2011)

Trung tướng, Chính ủy Học viện Quốc phòng(2009-2014)
11 Nguyễn Văn Động

(1954-)

2007-2008 Thiếu tướng(2007)

Trung tướng(2011)

Trung tướng, Cục trưởng Cục Cán bộ (2008-2014)[30]
12 Mai Văn Lý

(1955-)

2008-2014 Thiếu tướng (2008)

Trung tướng(2014)

Trung tướng, Phó Chủ nhiệm UBKT (2014-2015)
13 Lương Đình Hồng

(1963-)

2014-2015 Thiếu tướng (2014)

Trung tướng(2018)

Phó Chủ nhiệm UBKT Quân ủy Trung ương (2015-2017)

Chính ủy Trường Đại học Trần Quốc Tuấn (2017-2018)[31]

Chính ủy Học viện Quốc phòng (2018-nay)

14 Nguyễn Văn Bổng 2015-2016 Thiếu tướng (2015) Cục trưởng Cục Tổ chức (2016-2017)

Chánh Văn Phòng Quân ủy Trung ương Việt Nam(2017-)

15 Đỗ Văn Thiện 2016-2018 Thiếu tướng (2016) [32] Chính ủy trường Sĩ quan Lục quân 1 (2018-nay)
16 Nguyễn Văn Hùng 2018- nay Thiếu tướng (2018)

Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Các tướng lĩnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

10050-qu-n-o-n-1-qu-n-i-nh-n-d-n-vi-t-nam-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:08 (external edit)